Tại sao dân chủ xã hội chủ nghĩa phải gắn liền với pháp luật, kỉ cương em hãy cho ví dụ

Câu 1 trang 90 SGK GDCD lớp 11

Đề bài

Những biểu hiện về mặt bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là gì?

Lời giải chi tiết

Những biểu hiện về mặt bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là:

- Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân.

+ Bản chất giai cấp công nhân của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện ở sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình là Đảng Cộng sản nhằm thực hiện quyền lực và lợi ích của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động.

+ Chỉ có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động mới có thể tiến hành cuộc đấu tranh có hiệu quả chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa quan liêu, vô chính phủ, vi phạm quyền tự do dân chủ của nhân dân.

- Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.

+ Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên nền tảng của chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu. Trên cơ sở kinh tế đó, giai cấp công nhân và nhân dân lao động trở thành người làm chủ nền sản xuất và chi phối mọi hoạt động của đời sống xã hội.

+ Trong các lĩnh vực của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thì thực hiện dân chủ trong lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa cơ bản vì chủ khi nào người lao động thực sự làm chủ về kinh tế thì họ mới có dân chủ thực sự và trở thành lực lượng quyết định quá trình phát triển của xã hội.

- Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tư tưởng Mác – Lê-nin làm nền tảng tinh thần của xã hội.

- Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ của nhân dân lao động.

+ Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ rộng rãi nhất và triệt để nhất trong lịch sử vì trong chế độ xã hội chủ nghĩa chẳng những mọi người dân đều được hưởng quyền dân chủ, mà nhà nước còn chăm lo nâng cao trình độ dân trí, tạo điều kiện thực tế cho mọi người có khả năng thực hiện quyền dân chủ của mình.

+ Nhà nước xã hội chủ nghĩa – cơ quan quyền lực của nhân dân – do nhân dân lập ra, hoạt động của nó vì lợi ích của toàn thể nhân dân lao động. Nhà nước xã hội chủ nghĩa ngay từ buổi đầu hình thành đã xác định quyền lực thuộc về nhân dân, đó là một trong những nguyên tắc cơ bản xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do dân và vì dân.

- Dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với pháp luật, kỉ luật, kỉ cương. Dân chủ xã hội chủ nghĩa không thể thực hiện được nếu những hành vi gây tác hại đến quyền dân chủ của nhân dân không được xử lí kịp thời, đúng đắn. Vì vậy, để có dân chủ và dân chủ được thực hiện thì các quyền dân chủ của nhân dân phải được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật và được thực hiện bằng những thiết chế tương ứng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Loigiaihay.com

  • Câu 2 trang 90 SGK GDCD lớp 11

    Em hãy nêu những nội dung cơ bản của dân chủ trong các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

  • Câu 3 trang 90 SGK GDCD lớp 11

    Theo em, dân chủ và tập trung, dân chủ và tự do, dân chủ và pháp luật có mâu thuẫn với nhau không? Tại sao?

  • Câu 4 trang 90 SGK GDCD lớp 11

    Em hãy phân biệt dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp. Cho ví dụ minh họa?

  • Câu 5 trang 90 SGK GDCD lớp 11

    Hãy nêu những ví dụ thể hiện dân chủ và thể hiện không dân chủ mà em biết.

  • Câu 6 trang 90 SGK GDCD lớp 11

    Là một học sinh, em phải làm gì để góp phần thực hiện nếp sống dân chủ?

Dân chủ và thực hành dân chủ trong điều kiện một đảng cầm quyền ở Việt Nam

Thứ sáu - 06/08/2021 09:41
(TG) - Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đại đa số nhân dân, gắn với quyền dân chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, được pháp luật bảo đảm dưới sự lãnh đạo của Đảng; là hình thức thể hiện quyền tự do, bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước.


Ảnh minh hoạ
CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị xã hội, lại là khát vọng muôn thuở của con người, dân chủ đã xuất hiện từ xa xưa. Thời Hy Lạp cổ đại đã dùng từ Demokratina có nghĩa là dân chủ, quyền lực của nhân dân. Dân chủ là một phàm trù lịch sử, biến đổi và phát triển không ngừng cả về nhận thức và thực hành trong từng giai đoạn phát triển của xã hội loài người.
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, dân chủ là một phương tiện tất yếu để con người đạt tới tự do, giải phóng toàn diện những năng lực vốn có của mỗi cá nhân, tức quyền con người được bảo đảm và thực hiện đầy đủ; để khi ấy, con người sẽ từ “vương quốc tất yếu” sang “vương quốc tự do”. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin thường sử dụng khái niệm dân chủ trên nhiều phương diện khác nhau của xã hội. Khái niệm dân chủ như một hình thức nhà nước hay một chính thể dân chủ; dân chủ là vấn đề quyền lợi của nhân dân theo nghĩa rộng; dân chủ là nguyên tắc trong quản lý - tổ chức; dân chủ là khái niệm về tư tưởng, tinh thần dân chủ.
Với quan niệmdân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ,Hồ Chí Minh không chỉ đặt nhân dân lên vị thế chủ thể xã hội, mà còn nói rõ mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời giữa vị thế chủ thể xã hội của nhân dân với hành động làm chủ xã hội của nhân dân. Người khẳng định: “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”, là lợi ích thiết thực của nhân dân, là động lực thúc đẩy nhân dân hành động vì đất nước, vì dân tộc. Với Hồ Chí Minh, dân chủ là động lực không chỉ cho những thành công của cách mạng giải phóng dân tộc, mà cả cho những thành công trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam.
Ở Việt Nam hiện nay, qua gần một thế kỷ lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trọn vẹn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thành công trong công cuộc xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, được toàn thể nhân dân tin tưởng. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền là một lẽ đương nhiên. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Việt Nam không có tam quyền phân lập mà có sự thống nhất, phân công và phối hợp kiểm soát giữa ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền vì Hiến pháp và pháp luật là tối thượng. Cơ chế vận hành thể chế chính trị của Việt Nam dựa trên nền tảng thống nhất giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội; Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Việt Nam chủ trương xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tức là nền dân chủ mà ở đó tất cả quyền lực của Nhà nước thuộc về nhân dân; pháp luật của Nhà nước vì lợi ích của nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đại đa số nhân dân, gắn với quyền dân chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, được pháp luật bảo đảm dưới sự lãnh đạo của Đảng; là hình thức thể hiện quyền tự do, bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm toàn bộ các quyền của con người, quyền của công dân như quyền tự do cá nhân, tự do báo chí, hội họp, đi lại, tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo, quyền bất khả xâm phạm thân thể và quyền nhà ở, nghỉ ngơi, học hành… Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa là khẳng định quyền lực của nhân dân, là giải quyết mối quan hệ giữa quyền và lợi ích, quyền và nghĩa vụ, lợi ích và trách nhiệm.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa là khẳng định quyền lực của nhân dân, là giải quyết mối quan hệ giữa quyền và lợi ích, quyền và nghĩa vụ, lợi ích và trách nhiệm.
THỰC HÀNH DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng biểu quyết thông qua chương trình Hội nghị Trung ương 14 khóa XII_Ảnh: TTXVN
Qua các kỳ đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc và cụ thể hơn về dân chủ và thực hành dân chủ.
Đại hội IV của Đảng khẳng định: Để đưa cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, một trong những điều kiện tiên quyết là thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Các Đại hội tiếp theo của Đảng đều có những quan điểm sâu sắc về dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân. Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội(1). Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(2).
Thành công của Việt Nam trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là kết hợp hài hòa giữa nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về dân chủ để có chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật phù hợp, là giữa lý thuyết về dân chủ với việc thực hành dân chủ trên mọi mặt của đời sống xã hội. Thực hành dân chủ chính là hình thành những cơ chế, chính sách, những quy định, nguyên tắc và biện pháp hữu hiệu để bảo đảm cho mọi người dân thực hiện quyền dân chủ, là hiện thực hóa phương châm mà Đảng đã xác định. Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng. Thực chất của việc thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa là phát huy vai trò chủ thể của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân nhằm huy động mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là phát huy vai trò tích cực, tự giác, sáng tạo của con người với tư cách là chủ nhân của xã hội.
Mục tiêu của thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là củng cố và tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa vững mạnh; giữ ổn định chính trị, phát triển kinh tế nhanh và bền vững, tạo tiền đề đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ.
Nội dung cơ bản của thực hành dân chủ là Đảng lãnh đạo toàn bộ xã hội phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước là tổ chức quyền lực của nhân dân, thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, tổ chức quản lý, điều hành xã hội để thực hiện đường lối của Đảng và bảo đảm lợi ích của nhân dân; các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động theo đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và bảo đảm quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân. Nhân dân có quyền và trách nhiệm trực tiếp tham gia xây dựng, hoạch định và thi hành các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Tất cả những phương thức và giải pháp thực hành dân chủ ở Việt Nam đã đưa tới kết quả tốt đẹp, khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là biểu tượng về dân chủ và vấn đề cốt tử để xây dựng bảo vệ Tổ quốc chính là phải bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.
PHÁT HUY DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Hành trình 35 năm đổi mới đất nước vừa qua cũng là thời gian Việt Nam đẩy mạnh việc thực hành và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua 35 năm đổi mới để đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay chính là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo và sự nỗ lực phấn đấu bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân ta, đồng thời cũng là thành công của quá trình thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong 35 năm qua đã có những bước tiến rất quan trọng.
Thể chế thực thi các quyền làm chủ của nhân dân từng bước được xác lập, cụ thể hóa và đi vào cuộc sống như một lẽ đương nhiên. Ý thức dân chủ của công dân và của xã hội, trình độ làm chủ của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Nhiều chủ trương, biện pháp phát huy vai trò tích cực, chủ động của nhân dân đã được thực hiện hiệu quả. Niềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước được củng cố và trở thành quan hệ hữu cơ, bền chặt. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 tác động mạnh đến nước ta, gây nhiều thiệt hại về kinh tế - xã hội và chính trong hoàn cảnh đó dễ nhận thấy tính ưu việt của thể chế dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng; sự chỉ đạo điều hành quyết liệt, kịp thời của chính phủ; sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của các ngành, các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội; sự đồng hành, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước, chúng ta đã kịp thời khống chế, cơ bản kiểm soát được dịch bệnh, hạn chế tối đa những thiệt hại, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội của nhân dân, từng bước khôi phục sản xuất kinh doanh để hoàn thành ở mức cao nhất các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế có bước phát triển quan trọng là cơ sở cho sự bảo đảm dân chủ trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Đường lối xây dựng và phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh, hình thức phân phối, bình đẳng trước pháp luật, hoạt động theo pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, đã tạo nền điều kiện nền tảng cho việc thực hành và phát huy dân chủ.
Trong lĩnh vực chính trị, dân chủ trong Đảng, trong các tổ chức nhà nước, đoàn thể và xã hội trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan dân cử được mở rộng và phát huy hiệu quả tích cực. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý các hành vi vi phạm quyền dân chủ được chú trọng hơn. Hệ thống chính trị có những đổi mới theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả; dân chủ hóa, công khai minh bạch trong phương thức hoạt động, qua đó dân chủ xã hội ngày càng được phát huy, hiệu quả.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động theo hướng mở rộng và phát huy dân chủ, phát huy tốt hơn vai trò giám sát và phản biện xã hội. Các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp ra đời đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhân dân. Các hình thức thực hiện dân chủ (dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện) từng bước được mở rộng, đổi mới và thực hiện hiệu quả hơn.


Dân chủ trong lĩnh vực văn hóa - xã hội được đẩy mạnh và thực thi hiệu quả hơn. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các giải pháp hữu hiệu trong các lĩnh vực y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, công nghệ, môi trường… ngày càng hoàn thiện và đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống. Nhiều văn bản pháp luật đã cụ thể hóa các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, phù hợp hơn với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật được luật hóa và từng bước đi vào cuộc sống. Công bằng, bình đẳng xã hội có bước tiến bộ rõ rệt. Việt bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng được quan tâm và phát huy hiệu quả tích cực.
Có thể khẳng định, việc thực hành dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam là phù hợp với điều kiện ở nước ta nên đã đưa tới những thành công tốt đẹp. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững chủ trương và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội, mọi vấn đề từ cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược đến chủ trương, chính sách cụ thể của Đảng đều được tổ chức thảo luận rộng rãi trong Đảng và lấy ý kiến của nhân dân. Tất cả những phương thức và giải pháp thực hành dân chủ ở Việt Nam đã đưa tới kết quả tốt đẹp, khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là biểu tượng về dân chủ và vấn đề cốt tử để xây dựng bảo vệ Tổ quốc chính là phải bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Chính vì thế, trong Văn kiện Đại hội XIII, từ thực tiễn 35 năm đổi mới và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, 5 bài học kinh nghiệm quý báu đã được đúc kết, trong đó có bài học thứ hai là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn luôn quán triệt sau sắc quan điểm dân là gốc; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(3).
GS.TS. Vũ Văn Hiền
Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương
-----------------------
(1)Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2016, tr.169.
(2) (3)Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, tr.173. tr 27-28.

Nguồn tin: Tạp chí Tuyên giáo:

Phát huy dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương ở nước ta trong giai đoạn hiện nay – một góc nhìn từ vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề
Trải qua gần 35 năm đất nước tiến hành đường lối Đổi mới, thế và lực của đất nước ta đã ở một tầm khác. Đời sống của đại đa số người dân - chủ nhân của đất nước có những thay đổi căn bản. Từ thôn quê tới đô thị đều mang một diện mạo mới mà chúng ta khó có thể hình dung vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Đó là thành quả của khát vọng, ý chí vươn lên cùng bao nỗ lực vượt khó của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những thành quả quan trọng đó có thể được lý giải bởi nhiều nguyên nhân. Từ góc độ chủ đề bài tham luận này, có thể nói những thành tựu mà đất nước ta có được một phần quan trọng chính là nhờ Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa phát huy dân chủ với việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xã hội.
Dân chủ thường được hiểu là chế độ xã hội do nhân dân là chủ và nhân dân làm chủ.[1]Hiểu cho đầy đủ nội hàm khái niệm dân chủ cho tới nay vẫn là chủ đề tranh luận không chỉ ở trong nước mà ở cả các diễn đàn quốc tế.[2]Tuy vậy, chúng tôi cho rằng, tìm lại di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời rất thiết thực. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng giải thích rất giản dị nhưng sâu sắc rằng: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.[3]“Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân”.[4]“Dân làm chủ thì Chủ tịch, Bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”.[5]Một chính quyền dân chủ, vì thế, là chính quyền do nhân dân lập nên, chịu trách nhiệm trước nhân dân và hoạt động với mục tiêu cao nhất là mưu cầu lợi ích cho nhân dân.
Bảo đảm và duy trì dân chủ trong xã hội là tiền đề đặc biệt quan trọng, thiết yếu để mỗi người dân phát huy được vai trò làm chủ của mình trong xã hội, trong quản lý xã hội cũng như trong quản lý nhà nước. Bảo đảm và duy trì dân chủ trong tổ chức là tiền đề để từng thành viên trong tổ chức phát huy sáng kiến, đóng góp trí tuệ, công sức và nguồn lực của mình cho sự phát triển của tổ chức.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc thiết lập và duy trì nền dân chủ phù hợp với điều kiện cụ thể của quốc gia có thể mang đến nhiều kết quả tốt đẹp cho người dân của quốc gia ấy như:tăng trưởng và phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, bảo đảm bình đẳng giới, giảm bớt bất bình đẳng xã hội và tăng cường gắn kết xã hội, kiểm soát tham nhũng, ổn định chính trị, bảo đảm trật tự và an toàn xã hội, duy trì được tình trạng hòa bình trong quan hệ quốc tế, cuộc sống của người dân được hạnh phúc hơn.[6]
Kỷ luật, kỷ cương trong xã hội ở chừng mực nhất định được hiểu là trạng thái ở đó xã hội và các quan hệ tương tác giữa người với người nằm trong một trật tự ổn định. Kỷ luật, kỷ cương đôi khi còn được hiểu chính là những quy tắc, quy định do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh hành vi của các tổ chức, cá nhân trong xã hội nhằm duy trì xã hội hoặc các thành tố của xã hội trong một trật tự nhất định.[7]Hình thức biểu hiện rõ nét nhất các quy tắc về kỷ luật, kỷ cương trong xã hội chính là các quy định pháp luật cũng như các quy tắc, quy chế hoạt động của các tổ chức trong xã hội. Trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoặc tổ chức xã hội, các quy tắc về kỷ luật, kỷ cương chính là các quy tắc, quy chế, quy định điều chỉnh tổ chức và hoạt động của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội ấy. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xã hội chính là việc gia tăng tính tuân thủ của các thành viên trong xã hội đối với các quy tắc ứng xử tốt đẹp trong xã hội, gia tăng sự tuân thủ của các thành viên trong xã hội đối với pháp luật, bảo đảm cho trật tự pháp luật thiết lập và bảo vệ được duy trì một cách thực chất.
Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, một xã hội không thể ổn định và phát triển nếu không có kỷ luật, kỷ cương thể hiện ở sự hiện diện của hệ thống pháp luật và sự tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức, công dân. Người từng nói“Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn”.[8]Chính vì thế, ngay khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong điều kiện chưa thể xây dựng ngay được hệ thống pháp luật điều chỉnh toàn diện các quan hệ xã hội, bên cạnh việc kịp thời ban hành một số sắc lệnh, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 tạm giữ lại luật lệ của chế độ cũ (trừ những điều luật trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa) để duy trì kỷ cương trong xã hội. Trong bản Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta được xây dựng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chủ tịch, trong nội dung về công dân, ngoài các quy định về quyền lợi, Hiến pháp nhấn mạnh tới các nghĩa vụ của công dân, trong đó, nghĩa vụ hàng đầu phải là “tôn trọng Hiến pháp” và “tuân theo pháp luật” (Điều thứ 4). Nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp, pháp luật này của công dân được Hiến pháp năm 1959 (cũng do Chủ tịch Hồ Chí Minh là Trưởng ban soạn thảo) tiếp tục ghi nhận tại Điều 39.[9]Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã áp dụng pháp luật để xử lý rất nghiêm minh các cán bộ vi phạm kỷ luật, kỷ cương phép nước, kể cả cán bộ cao cấp trong quân đội mà vụ án Trần Dụ Châu là câu chuyện còn lưu truyền mãi về sau.
Trong thời đại ngày nay, có thể thấy rằng, dân chủ và kỷ luật, kỷ cương là hai tiền đề để có một quốc gia, dân tộc, xã hội phát triển nhanh và bền vững. Nhận diện được tầm quan trọng của việc phát huy dân chủ gắn với việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương, Đảng ta xác định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩalà bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hoá bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện.”[10]Thực tiễn cho thấy, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh chính là chìa khóa để xử lý vấn đề phát huy dân chủ và tăng cường kỷ luật, kỷ cương ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
2. Những thành tựu trong phát huy dân chủ ở Việt Nam
Có thể nói, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có nội dung cốt lõi là sự nghiệp xây dựng nền dân chủ kiểu mới. Chế độ ta là sản phẩm của tiến trình vận động dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn tâm niệm rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Điều đó có nghĩa rằng, nhân dân là chủ thể của mọi hoạt động cách mạng. Điều này đã trở thành một trong năm bài học kinh nghiệm lớn mà Đảng ta rút ra từ thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp cách mạng: “sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng.”[11]
Ôn lại lịch sử, chúng ta thấy, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ vào ngày 03/9/1945 (tức là chỉ 1 ngày sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị:“Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”.Để hiện thực ý tưởng đó, ngày 08/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 14/SL về việc Tổng tuyển cử đề bầu Quốc dân đại hội (Quốc hội). Ngày 20/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 34/SL thành lập Ủy ban Dự thảo Hiến pháp. Ngày 09/11/1946, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà (còn gọi là Hiến pháp năm 1946) trong đó ngay Điều thứ 1 đã quy định nước Việt Nam là một nước dân chủ, quyền lực trong nước là của toàn thể nhân dân. Cụ thể:“Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà.Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.”
Trải qua quá trình vận động cách mạng, Nhà nước ta được hình thành cùng với cuộc Cách mạng tháng Tám. Bộ máy nhà nước được hình thành bằng con đường dân chủ phổ thông đầu phiếu với cuộc tổng tuyển cử đầu tiên được tổ chức vào ngày 06/01/1946 (chỉ sau 4 tháng kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập). Chế độ bầu cử phổ thông đầu phiếu đó được duy trì ở nước ta kể từ đó tới nay. Với truyền thống đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết cùng lịch sử dân tộc Việt gắn bó keo sơn với nhau trong đại gia đình lớn, bộ máy nhà nước do nhân dân lập nên, được nhân dân ủng hộ, che chở, đùm bọc đồng thời chính bộ máy nhà nước ấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã tổ chức nhân dân tiến hành các cuộc đấu tranh cách mạng, giành được những thành tựu vĩ đại. Mặc dù không phải không có những lúc mắc sai lầm, khuyết điểm, nhưng với bản chất của dân, do dân và vì dân, Đảng và Nhà nước đã kịp thời nhận diện và khắc phục, sửa chữa theo ý nguyện của nhân dân. Chính bởi thế, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân là mối quan hệ gắn bó keo sơn đặc biệt, đầy ân tình, ân nghĩa. Quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân được xem là cội nguồn sức mạnh không chỉ của bản thân Đảng, Nhà nước mà cũng là cội nguồn sức mạnh của chính dân tộc Việt Nam. Đây là thực tế chính trị của Việt Nam. Nhờ phát huy dân chủ mà kỳ thực là phát huy vai trò chủ thể lịch sử của nhân dân, phát huy sức mạnh vô bờ bến của nhân dân, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân làm nên nhiều kỳ tích lịch sử: giành được độc lập từ ách thực dân, phong kiến vào năm 1945; chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954; thống nhất đất nước năm 1975; chiến thắng các cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc; tiến hành Đổi mới thành công từ năm 1986 đến nay. Gần đây nhất, việc Việt Nam kiểm soát và đẩy lùi được đại dịch COVID-19 nhờ sự đồng lòng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và cả hệ thống chính trị càng minh chứng rõ điều này. Đây là nét đặc sắc trong văn hóa chính trị của Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Nhìn lại lịch sử, có thể nói, nhờ sự phấn đấu bền bỉ của các tầng lớp nhân dân, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày nay. Đi kèm với đó là hệ thống dân chủ được thiết lập trong tổ chức và hoạt động của cả xã hội nói chung, trong hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước nói riêng. Hiến pháp năm 2013 khẳng định rõ: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”.[12]Thêm vào đó, điểm đặc sắc trong bản Hiến pháp của chúng ta là Hiến pháp không chỉ khẳng định tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân một cách chung chung mà Hiến pháp còn giải thích thêm “Nhân dân” đó có nền tảng là “liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”. Chúng ta đều biết, trong xã hội có phân chia giai cấp, có phân tầng xã hội, nhất là xã hội tư bản, công nhân và nông dân thường là lực lượng yếu thế, gặp nhiều rào cản trong việc thực hiện quyền dân chủ của mình. Chính vì thế, công nhân và nông dân trong xã hội tư bản rất khó thực hiện một cách thực chất quyền làm chủ của mình. Nhận thức rõ thực tế ấy, để thể hiện rõ nét bản chất dân chủ của chế độ ta - chế độ do Nhân dân lao động làm chủ, Hiến pháp ta đã khẳng định rõ chủ nhân của đất nước ta (Nhân dân) được hiểu là chủ thể có nền tảng là những người lao động (liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức). Bởi vậy, nền dân chủ mà chúng ta xây dựng không chỉ là nền dân chủ mà chỉ có những người nhiều tiền của và thế lực mới thực hiện được quyền dân chủ mà phải là nền dân chủ mà các giai tầng lao động trong xã hội đều được tham gia kiến tạo và thụ hưởng thành quả.
Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng và bảo đảm nền dân chủ, theo đó “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ củaNhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Hiến pháp năm 2013 cũng có nhiều quy định quan trọng khác để bảo đảm phát huy dân chủ như quy định tại Điều 4 (“Đảng Cộng sản Việt Namgắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân,chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”), Điều 6 (“Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằngdân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông quacác cơ quan khác của Nhà nước”) và Điều 8 (“Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”)… Điều 9 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ cơ sở hiến định về tổ chức và hoạt động của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc phát huy dân chủ, theo đó“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Trên cơ sở Cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng và Hiến pháp, hàng loạt các đạo luật thực hiện quyền dân chủ của nhân dân được ban hành, trong đó phải kể tới các đạo luật về bầu cử, các đạo luật về quyền tham gia của nhân dân trong quản lý nhà nước, các đạo luật về khiếu nại, tố cáo, các đạo luật về thực hiện quyền dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, các đạo luật về an sinh xã hội. Cụ thể, đó là Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015,[13]Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)[14], Luật Khiếu nại năm 2011[15], Luật Tiếp công dân năm 2013, Luật Tố cáo năm 2018, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2016)[16], Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014[17]… Đặc biệt, Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007,[18]Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.[19]
Thêm vào đó, các thiết chế dân chủ từ Trung ương tới cơ sở đều có bước đổi mới và tăng cường. Điều đó có thể thấy rõ qua sinh hoạt nghị trường tại Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; qua hoạt động sinh động của các cơ quan truyền thông, báo chí và cả mạng xã hội. Hệ thống chính trị của chúng ta, từ các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể được hình thành đầy đủ và đồng bộ, đại diện quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho các tầng lớp nhân dân (công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, trí thức…), bảo đảm tiếng nói của nhân dân được lắng nghe trong các quyết sách quan trọng của Đảng và Nhà nước.
Nhờ các sáng kiến của nhân dân, sự nỗ lực của nhân dân, sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế cùng các lĩnh vực khác có liên quan, chúng ta mới có được vị thế kinh tế như ngày nay. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu cùng bao di sản của chiến tranh, Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình với mức thu nhập bình quân đầu người khoảng gần 3000 USD (bằng khoảng 15 lần so với thu nhập bình quân đầu người ngay trước thời điểm tiến hành đường lối Đổi mới). Ngày nay, Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế thị trường năng động, là thành viên của WTO, có quan hệ đối tác chiến lược hoặc đối tác toàn diện với tất cả các nước trong Thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, có quan hệ ngoại giao với 185 quốc gia,[20]có quan hệ kinh tế - thương mại rộng mở với tất cả các quốc gia trong G7,[21]OECD,[22]G20, EU và tuyệt đại đa số các quốc gia còn lại trên thế giới, cùng với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (đang trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện) dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tính dân chủ của xã hội ta còn được thể hiện rõ trong nhiều lĩnh vực khác, nhất là lĩnh vực kinh tế khi quyền của người dân trong việc làm chủ tư liệu sản xuất, làm chủ quá trình tổ chức quản lý kinh tế và làm chủ trong việc thụ hưởng thành quả lao động mình đã đóng góp. Từ năm 2016 đến nay, mỗi năm, Việt Nam có thêm từ 110 ngàn đến gần 140 ngàn doanh nghiệp được thành lập mới. Cụ thể, năm 2019, cả nước có 138.100 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.730 nghìn tỷ đồng, tăng 5,2% về số doanh nghiệp và tăng 17,1% về số vốn đăng ký so với năm 2018. Năm 2018, cả nước có 131.275 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.478,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% về số doanh nghiệp và tăng 14,1% về số vốn đăng ký so với năm 2017).[23]Có thể thấy, chưa bao giờ tinh thần khởi nghiệp - một biểu hiện của việc phát huy dân chủ trong lĩnh vực kinh tế lại đạt đỉnh cao như hiện nay.
Dân chủ và sinh hoạt dân chủ ngày càng sinh động đang là thực tế chính trị tại đất nước ta. Cả thể chế, thiết chế dân chủ và điều kiện bảo đảm dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội đều không ngừng được hoàn thiện.
Có thể nói, mỗi khi chúng ta hoàn thiện thể chế và thực thi đầy đủ các thể chế về dân chủ, bảo đảm cho Nhà nước ta thực sự của dân, do dân và vì dân hơn, chính là chúng ta tiến gần hơn tới điều mong ước và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời.
3. Những thành tựu trong việc thiết lập kỷ luật, kỷ cương trong xã hội
Trong thời kỳ chiến tranh, nhờ duy trì kỷ luật, kỷ cương trong xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã phát huy sức mạnh tổng lực của nhân dân, giành chiến thắng trước những kẻ địch có tiềm lực mạnh hơn ta gấp nhiều lần.
Chuyển sang thời bình và nhất là từ khi Đảng ta tiến hành đường lối Đổi mới vào năm 1986, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường (mà từ năm 2001, Đảng ta chính thức định danh là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa), việc thiết lập kỷ luật, kỷ cương trong xã hội lại có những yêu cầu mới. Một trong những yêu cầu hàng đầu của việc duy trì kỷ luật, kỷ cương trong xã hội của thời kỳ chuyển đổi là việc Việt Nam phải sớm xây dựng được một hệ thống pháp luật có chất lượng, điều chỉnh toàn diện các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Đi kèm với đó là yêu cầu duy trì thượng tôn pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật.
Sớm nhận thức yêu cầu có tính khách quan đó, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã trở thành một trong những công việc quan trọng hàng đầu của tiến trình đổi mới. Các số liệu thống kê cho thấy: từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã ban hành 2 bản Hiến pháp mới là Hiến pháp năm 1992 (thay thế Hiến pháp năm 1980) và Hiến pháp năm 2013, bên cạnh lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp vào năm 2001. Các số liệu thống kê cũng cho thấy, từ ngày 01/01/1987 đến 31/12/2019 (33 năm), Việt Nam đã ban hành được 616 luật, pháp lệnh, gấp hơn 9 lần so với số luật, pháp lệnh được ban hành trong 41 năm trước đó.[24]
Cho tới nay, tuyệt đại đa số các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đều có luật điều chỉnh. Trong số đó, phải kể tới các đạo luật mang tính rường cột của nước nhà (bên cạnh Hiến pháp) như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Bộ luật lao động, Luật Bảo vệ môi trường...
Các hành vi vi phạm pháp luật cũng là những hành vi xâm phạm trật tự bình thường của đời sống chính trị, kinh tế - xã hội về cơ bản được nhận diện khá đầy đủ để các cơ quan lập pháp và hành pháp thiết kế các biện pháp chế tài tương xứng. Điều đó thể hiện rõ trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và nay là Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và hàng chục nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Đi kèm với đó, chúng ta đã xây dựng được hệ thống các cơ quan, thiết chế về thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, đó chính là hệ thống các cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, cơ quan điều tra (thuộc lực lượng công an, quân đội và kiểm sát), hệ thống viện kiểm sát nhân dân các cấp, hệ thống tòa án nhân dân các cấp và các cơ quan thi hành án hình sự, dân sự và hành chính từ trung ương đến cấp huyện.
Thực tiễn triển khai các đạo luật kể trên cho thấy, bên cạnh việc chú trọng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật, công tác phát hiện, điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, nhất là tội phạm được quan tâm thực hiện. Hàng năm, hàng triệu hành vi vi phạm hành chính được phát hiện và xử lý cùng với hàng chục ngàn vụ án hình sự được điều tra, truy tố, xét xử theo đúng quy định của pháp luật, góp phần duy trì trật tự, kỷ cương trong toàn xã hội.[25]
Thêm vào đó, nhờ thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã nhận thức rất rõ bài học quan trọng rằng“quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng.”[26]Chính vì thế, Đảng ta, rất nghiêm khắc trong việc xử lý các đảng viên sai phạm, trong đó có cả những đảng viên nguyên là cán bộ cao cấp với tinh thần “thượng tôn pháp luật”, xử lý vi phạm “không có vùng cấm”. Cụ thể, trong những năm gần đây (nhất là kể từ khi triển khai Nghị quyết trung ương 4 Khóa XI và Nghị quyết trung ương 4 Khóa XII), với quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước ta, công tác phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh bằng nhiều biện pháp bao gồm xử lý kỷ luật, xử lý hành chính và xử lý hình sự đối với nhiều cán bộ sai phạm.[27]Cũng qua công tác thanh tra, kiểm toán đã phát hiện vi phạm, kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính, kiến nghị xử lý hành chính đối với tập thể và nhiều cá nhân.[28]
Bên cạnh đó, các tranh chấp dân sự, hôn nhân, gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được giải quyết theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Hòa giải ở cơ sở... nhằm góp phần duy trì sự ổn định xã hội, ngăn ngừa khả năng biến các tranh chấp nhỏ trong nhân dân thành các tranh chấp lớn, biến các tranh chấp lớn thành các vụ án hình sự.
Có thể nói, đến nay, chúng ta, về cơ bản, đã giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và kỷ luật, kỷ cương trong xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà cộng đồng quốc tế trong những năm gần đây luôn coi Việt Nam là điểm đến an toàn và hấp dẫn trên thế giới.[29]
4. Kiến nghị
Để tiếp tục phát huy dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương ở đất nước chúng ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, mang lại những lợi ích tốt nhất cho người dân và sự phát triển của đất nước, chúng tôi cho rằng:
Thứ nhất, vấn đề phát huy dân chủ và tăng cường kỷ luật, kỷ cương ở nước ta chỉ được giải quyết một cách đúng đắn và trọn vẹn nếu dựa vào tư duy và phương pháp luận biện chứng. Theo đó, việc xây dựng và phát huy dân chủ hoặc thực hiện các phương thức dân chủ cần nhìn nhận trong trạng thái động, gắn với điều kiện lịch sử, văn hóa, chính trị và trình độ phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Nền dân chủ phù hợp nhất cho Việt Nam dứt khoát phải là nền dân chủ do chính nhân dân Việt Nam xây dựng nên chứ không thể là sự sao chép hoặc áp đặt mô hình dân chủ của bất cứ quốc gia nào khác trên dải đất hình chữ S có ngàn năm lịch sử theo kiểu đẽo chân cho vừa giày. Các phương thức thực hiện dân chủ phù hợp nhất sẽ được tìm ra từ chính thực tiễn thực hiện dân chủ của Việt Nam. Điều đó có nghĩa là, có thể trong thực tiễn xây dựng nền dân chủ hoặc phát huy dân chủ hiện nay, dù đó là trong lĩnh vực chính trị hay kinh tế và xã hội, vẫn luôn còn những dư địa để đổi mới, hoàn thiện nhưng việc đổi mới, hoàn thiện ấy phải xuất phát từ sự phân tích kỹ nhu cầu, thực tiễn, trình độ phát triển của Việt Nam. Giải pháp đưa ra phải phù hợp với truyền thống lịch sử, văn hóa và thực tiễn chính trị của Việt Nam và phải là sự sáng tạo của chính người Việt Nam.
Thứ hai, cần tiếp tục nghiên cứu, học tập, quán triệt, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, vận dụng sáng tạo những di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, bảo đảm dân chủ thực sự là bản chất của chế độ ta, là mục tiêu và là động lực của công cuộc Đổi mới. Trong đó, một trong những điểm cốt lõi cần lưu ý là phải bảo đảm được bản chất thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của nhà nước và chế độ ta, bảo đảm nhân dân kiểm tra, giám sát và kiểm soát được một cách thực chất việc thực thi quyền lực nhà nước trong đời sống thường nhật, kiên quyết chống lại mọi biểu hiện lạm quyền, lộng quyền và tha hóa quyền lực công.
Thứ ba, thực hiện đúng chủ trương mà Đại hội XII của Đảng đã khẳng định “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện. Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân”.[30]Đến nay, tuy việc xây dựng văn kiện Đại hội Đảng các cấp đã có sự tham gia nhất định của nhân dân nhưng với việc xây dựng văn kiện các Hội nghị Trung ương của Đảng, cơ hội để người dân được tham gia còn tương đối hạn chế. Có ý kiến cho rằng, việc xây dựng các quyết sách trong các cơ quan của Đảng là công việc thuần túy nội bộ của Đảng nên sự tham gia của người dân nói chung không phải lúc nào cũng cần thiết. Chúng tôi cho rằng, nhận thức như vậy có phần chưa thực sự đầy đủ. Đảng ta khác với các đảng phái ở nhiều quốc gia khác. Đảng ta bên cạnh việc đại diện quyền lợi của giai cấp, hiện nay Đảng ta còn là chính Đảng duy nhất hợp pháp của cả dân tộc. Chính vì thế, công việc chính của Đảng cũng là công việc lo cho dân và là công việc của dân. Vì thế, việc tạo điều kiện để nhân dân có nhiều cơ hội hơn trong việc tham gia hình thành nên đường lối, chủ trương của Đảng là công việc rất cần thực hiện. Trong thời gian tới, chủ trương của Đại hội XII vừa nêu rất nên có biện pháp triển khai thực chất hơn.
Thứ tư, cần tiếp tục đầu tư cho công tác tổng kết thực tiễn xây dựng, vận hành nền dân chủ ở Việt Nam cũng như cách thức thiết lập và củng cố kỷ luật, kỷ cương ở nước ta, để kịp thời phát hiện ra những biểu hiện và căn nguyên của biểu hiện dân chủ hình thức hoặc dân chủ mang tính dân túy, dân chủ không gắn với kỷ luật, kỷ cương để kịp thời uốn nắn, căn chỉnh. Trên cơ sở phân tích kỹ thực tiễn, cần có giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định về bầu cử trong các tổ chức của hệ thống chính trị, bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, bảo đảm người thực hiện quyền bầu cử được biết đầy đủ hơn thông tin về những người ứng cử đồng thời quy định rõ hơn cơ chế giám sát, quy trách nhiệm đối với các đại biểu trúng cử trong việc thực thi chức trách của mình cũng như trong việc thực hiện những lời hứa, những cam kết của mình khi vận động bầu cử. Đi kèm với đó, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền con người, quyền công dân để mỗi người dân có đầy đủ hơn công cụ pháp lý thực hiện quyền dân chủ của mình, đặc biệt cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về sự tham gia của nhân dân vào quá trình xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo các quyết sách quan trọng của chính quyền trung ương và địa phương các cấp, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các biểu hiện lợi ích nhóm và lợi ích cục bộ trong xây dựng và thi hành pháp luật. Đẩy mạnh việc thực hiện có hiệu quả các quy định pháp luật về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện quyết định của cơ quan công quyền, bảo đảm đúng tinh thần mà Văn kiện Đại hội XII đã khẳng định, theo đó, pháp luật không chỉ là công cụ để nhà nước quản lý xã hội mà còn là công cụ để nhân dân kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước. Thêm vào đó, cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, gỡ bỏ triệt để các điều kiện đầu tư kinh doanh bất hợp lý cùng các thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, cải thiện môi trường cạnh tranh quốc gia, nâng cao thêm thứ hạng môi trường cạnh tranh quốc gia trong các bảng xếp hạng quốc tế để người dân được thụ hưởng nền hành chính trong sạch, chuyên nghiệp, phục vụ người dân, kiến tạo phát triển. Qua đó, tinh thần khởi nghiệp của người Việt Nam và sự dân chủ trong hoạt động kinh tế mới được phát huy ở mức cao nhất.
Thứ năm,tiếp tục thực hiện đầy đủ các chủ trương, giải pháp trong Nghị quyết trung ương IV khóa XI và Nghị quyết trung ương IV khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ; hoàn thiện các quy định về kỷ luật trong Đảng, hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, xử lý tội phạm, giải quyết tranh chấp, đầu tư tương xứng cho các thiết chế thi hành pháp luật (các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án) để mọi vi phạm kỷ luật, mọi vi phạm pháp luật đều được phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời. Đi kèm với đó cần tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lấy việc duy trì kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, trong hệ thống chính trị, trong bộ máy nhà nước làm tiêu chuẩn, làm mực thước để chấn chỉnh trật tự, kỷ cương trong xã hội. “Chúng ta cần kiên quyết, kiên trì và tích cực làm trong sạch đội ngũ của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ...Mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong Đảng và trong bộ máy chính quyền lại càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác.”[31]
Thêm vào đó, công tác tổ chức thi hành pháp luật, nhất là công tác phát hiện, điều tra, xử lý vi phạm pháp luật là công tác đặc biệt nhạy cảm, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, đây có thể là môi trường dễ bị chi phối bởi yếu tố “quan hệ”, “tiền tệ”, từ đó làm sai lệch hiệu quả điều chỉnh pháp luật. Chính vì thế, cần sớm hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động thi hành pháp luật, nhất là hoạt động thanh tra, kiểm tra hành vi vi phạm, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, nhằm duy trì môi trường thực sự trong sạch, nghiêm minh trong việc duy trì kỷ luật, kỷ cương của xã hội. Bên cạnh đó, cần kịp thời có giải pháp khắc phục tình trạng quá tải trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án ở nước ta hiện nay.
Dân chủ mang lại sinh khí cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, tổ chức và toàn xã hội. Kỷ luật và kỷ cương giúp cho mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và cả xã hội dễ kết thành một khối thống nhất, làm cộng hưởng và gia tăng sức mạnh cho mỗi thành viên của tổ chức và xã hội. Do đó, phát huy dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương cả trong Đảng, Nhà nước và xã hội không chỉ là tiền đề thiết yếu mà còn là giải pháp có ý nghĩa chiến lược cho sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn hiện nay vì một Việt Nam hùng cường./.

TS. Nguyễn Văn Cương*
[1]Trong nguyên nghĩa tiếng Hy Lạp cổ đại, từ “dân chủ” (demokratia) được cấu thành bởi 2 thành tố “demos” (“nhân dân”) và “kratos” (“trị vì”), do đó, “dân chủ” có nghĩa là “sự trị vì bởi nhân dân” [Xem: Jørgen Møller and Svend-Erik Skaaning,Democracy and Democratization in Comparative Perspective Conceptions: Conjunctures, Causes, and Consequences(London: Routledge, 2013) at 2].
[2]Xem GS.TS. Hoàng Chí Bảo, “Nhận thức lý luận về dân chủ qua văn kiện Đại hội XI của Đảng” trong tác phẩm của Hội đồng Lý luận trung ươngKiên định mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta(Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2013) tr. 314-332; GS.TS. Phạm Ngọc Quang, “Dân chủ là bản chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” cũng trong tác phẩm trên tại trang 333-346. Xem thêm: Takashi Inoguchi, Edward Newman, and John Keane (eds),The Changing Nature of Democracy(Tokyo: United Nations University Press, 1998) at 1; Jørgen Møller and Svend-Erik Skaaning,Democracy and Democratization in Comparative Perspective Conceptions: Conjunctures, Causes, and Consequences(London: Routledge, 2013) at 2.
[3]Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, t.5, tr. 698.
[4]Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, t.4, tr. 56-58.
[5]Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, t.8, tr. 375.
[6]Renske Doorenspleet,Rethinking the Value of Democracy: A Comparative Perspective(Switzerland: Palgrave Macmillan, 2019) at 1.
[7]“Kỷ luật” theo nghĩa thông thường là “tổng thể những điều quy định có tính bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức, để bảo đảm tính chặt chẽ của tổ chức” hoặc “hình thức phạt đối với người vi phạm kỷ luật” [Xem: Hoàng Phê (chủ biên),Từ điển tiếng Việt(Hà Nội: NXB Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học, 2004) tr. 519]. “Kỷ cương” theo nghĩa thông thường là “những phép tắc làm nên trật tự của một xã hội (nói tổng quát)” [Xem: Hoàng Phê (chủ biên),Từ điển tiếng Việt(Hà Nội: NXB Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học, 2004) tr. 519].
[8]Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, t.4, tr. 163 (Báo Cứu quốc, số 155 ngày 05/02/1946).
[9]Các bản Hiến pháp về sau này như Hiến pháp năm 1980 (Điều 78), Hiến pháp năm 1992 (Điều 79), Hiến pháp năm 2013 (Điều 46) đều có quy định về nội dung này.
[10]Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI(Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2011) tr. 84-85.
[11]Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI(Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2011) tr. 65.
[12]Khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013.
[13]Trước đó, Việt Nam đã ban hành các đạo luật về bầu cử như: Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1959, 1980, 1992, 1997, 2001; Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 1983, 1989, 1994, 2003…
[14]Trước đó, Việt Nam đã ban hành các đạo luật về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong đó có quy định quyền tham gia của nhân dân trong hoạt động xây dựng pháp luật như Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004.
[15]Trước đó, Việt Nam đã ban hành các đạo luật về khiếu nại, tố cáo như: Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2004 và 2005).
[16]Trước đó, Việt Nam đã ban hành Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 (sửa đổi, bổ sung năm 1994), Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005.
[17]Trước đó, Việt Nam đã ban hành Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006.
[18]Trước đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (sau đó được thay thế bởi Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003).
[19]Trước đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan.
[20]Hoa Nguyễn, “Để nâng tầm đối ngoại đa phương Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” <//www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/815723/de-nang-tam-doi-ngoai-da-phuong-viet-nam-trong-boi-canh-toan-cau-hoa-va-hoi-nhap-quoc-te.aspx>, ngày 30/12/2019.
[21]07 quốc gia công nghiệp phát triển: Hoa Kỳ, Anh, Đức, Pháp, Nhật, Ý và Canada.
[22]Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế là diễn đàn hợp tác của 34 quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới, bao gồm các nước G7 còn có các quốc gia khác như Úc, Niu Di Lân, Hàn Quốc...
[23]Cục quản lý đăng ký kinh doanh <//dangkykinhdoanh.gov.vn/vn/tin-tuc/598/5051/tinh-hinh-dang-ky-doanh-nghiep-nam-2019.aspx>.
[24]Số luật, pháp lệnh ban hành từ năm 1945 tới năm 1986 là 63.
[25]Bộ Tư pháp, Báo cáo số 322/BC-BTP ngày 15/11/2017 về Công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2017.
[26]Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI(Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2011) tr. 65.
[27]Hiền Hòa, “Năm 2020, công tác phòng, chống tham nhũng cần quyết liệt hơn, hiệu quả hơn” <//dangcongsan.vn/xay-dung-dang/nam-2020-cong-tac-phong-chong-tham-nhung-can-quyet-liet-hon-hieu-qua-hon-546908.html>, ngày 15/01/2020.
[28]Hiền Hòa, “Năm 2020, công tác phòng, chống tham nhũng cần quyết liệt hơn, hiệu quả hơn”, tlđd.
[29]Tấn Việt, “Việt Nam là điểm đến an toàn cho các nước” <//plo.vn/thoi-su/viet-nam-la-diem-den-an-toan-cho-cac-nuoc-894049.html>, ngày 04/3/2020.
[30]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2016) tr. 169.
[31]Lời đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã phát biểu trong Lễ Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (Báo Chính phủ Điện tử, “Nguyện kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp vĩ đại của Bác Hồ” <//baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Nguyen-ke-tuc-trung-thanh-va-xuat-sac-su-nghiep-vi-dai-cua-Bac-Ho/395814.vgp>, ngày 18/5/2020).
*Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp.

Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH

(ĐCSVN) - Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, đăng trên Báo Nhân dân, ngày (16/5/2021), đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục khẳng định và làm rõ, dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội...

Hội nghị tiếp xúc giữa cử tri với người ứng cử đại biểu Quốc hội khoá XV thuộc Đơn vị
bầu cử số 1 của TP Hà Nội. (Ảnh: Đăng Khoa)

Phát triển lý luận và thực tiễn về dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những thành tựu to lớn của Đảng ta qua 35 năm đổi mới, góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển đường lối đổi mới của Đảng vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đáp ứng được khát vọng của nhân dân, phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn Việt Nam. Tổng kết về vấn đề này, khẳng định: “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng nền dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ thực sự thuộc về nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”(1). Đây là một trong những luận điểm khái quát cốt lõi về bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Thứ nhất: “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước ta là một nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới là trách nhiệm của dân... Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(2), trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã khẳng định, dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chế độ xã hội xã hội “do nhân dân làm chủ”(3), ở đó, quyền làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ và làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc Đảng Cộng sản – đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động lãnh đạo, thực hiện nhất nguyên về chính trị. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng các hình thức trực tiếp và gián tiếp, thông qua các tổ chức trong hệ thống chính trị, trong đó nòng cốt là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, trên cơ sở nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Nhà nước “đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội”(4).

Với bản chất và đặc điểm nêu trên, dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là chế độ dân chủ thực sự, không phải là dân chủ hình thức, cực đoan, vô chính phủ. Nó đối lập với chuyên quyền độc đoán, đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, quan liêu. Nói một cách khác, dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ thấm nhuần đầy đủ và sâu sắc nhất tính pháp lý và tính nhân văn. Khẳng định điều này, đồng chí Tổng Bí thư đã viết: “Chúng ta cần một xã hội, mà trong đó, sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người”(5).

Trong những năm thực hiện đổi mới, Đảng đã nhận thức sâu sắc rằng để đi lên chủ nghĩa xã hội, cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.., nhất thiết phải xây dựng thành công nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Bởi vì “dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển”(6), không có dân chủ thì không có chủ nghĩa xã hội. Với tư cách là đỉnh cao trong toàn bộ lịch sử tiến hoá của dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa kết tinh trong bản thân mình toàn bộ những giá trị dân chủ đạt được trong lịch sử và nảy sinh những giá trị dân chủ mới về chất. Ở đây, dân chủ trở thành giá trị phổ biến của xã hội, thâm nhập vào mọi quan hệ chính trị - xã hội, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bao quát mọi góc độ trong sự tồn tại của con người, tạo ra ngày càng đầy đủ những điều kiện cho sự giải phóng mọi năng lực sáng tạo của con người. Đây cũng là căn cứ để Đảng ta xác định, dân chủ là một trong những thành tố quan trọng trong hệ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trên cơ sở những chỉ báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ “dân là chủ” đến “dân làm chủ” là một bước phát triển về chất, Đảng ta không chỉ xác định vị thế, tư cách chủ thể xã hội là của nhân dân, “dân là gốc”, mà quan trọng hơn, bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là phải làm cho nhân dân được hưởng quyền làm chủ và có năng lực, phương pháp, bản lĩnh làm chủ trên thực tế... khi đó, dân chủ trở thành động lực để xây dựng, phát triển đất nước. Tại Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “…thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “Dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân hưởng thụ””(7).

Thứ hai: “Xây dựng nền dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ thực sự thuộc về nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”

Thực tiễn cách mạng Việt Nam, đặc biệt qua 35 năm đổi mới, thể hiện rất rõ và hết sức sinh động những tiến bộ đạt được trong phát huy dân chủ, cũng như xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Quan niệm về dân chủ ngày càng được mở rộng. Dân chủ được xem xét trên nhiều khía cạnh: là chế độ chính trị; là giá trị; là phương thức và nguyên tắc tổ chức xã hội; dân chủ chung đối với xã hội và dân chủ riêng đối với mỗi cá nhân; dân chủ được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Dân chủ phải được thể hiện trong tất cả các cấp độ: Từ cơ quan lãnh đạo cao nhất đến từng cơ sở; đặc biệt quan trọng là dân chủ ở cơ sở.

Bên cạnh đó, Đảng ta chỉ rõ: “Quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm; vẫn còn biểu hiện dân chủ hình thức, tách rời dân chủ với kỷ cương, pháp luật”(8), nguyên nhân của hạn chế này là do hoạt động của hệ thống chính trị chưa thực sự đồng bộ, hiệu quả, các điều kiện để người dân làm chủ chưa đầy đủ, sự thiếu gương mẫu của một bộ phận cán bộ, đảng viên, sự thiếu ý thức dân chủ, lợi dụng dân chủ của một bộ phận nhân dân… Do vậy, đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: “Xây dựng nền dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ thực sự thuộc về nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”.

Để xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu đòi hỏi phải có “…một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”(9). Phải phát huy vai trò chủ thể của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân, nhằm huy động mọi nguồn lực đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng thông qua Nhà nước lãnh đạo toàn xã hội phát triển theo đúng con đường xã hội chủ nghĩa. Nhà nước là tổ chức quyền lực của nhân dân, thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, tổ chức quản lý, điều hành xã hội để hiện thực đường lối chính trị của Đảng, hành động vì quyền lợi của nhân dân, điều gì có lợi cho dân phải cố gắng làm, điều gì có hại cho dân phải hết sức tránh, chăm lo phát triển, bồi dưỡng và tiết kiệm sức dân như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do vậy: “Mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(10). Nhân dân là người chủ xã hội, cho nên nhân dân không chỉ có quyền, mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định, thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Như vậy, trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là một trong những mối quan hệ lớn cần được tăng cường nắm vững và giải quyết hiện nay nhằm hiện thực hóa mục tiêu: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích” như ý kiến của đồng chí Tổng Bí thư nêu trong bài viết.

Là ước vọng hàng ngàn năm của tuyệt đại đa số nhân dân lao động, tuy nhiên, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản nói chung, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa nói riêng là thực tiễn chưa có tiền lệ, khác với nền dân chủ tư sản đã có lịch sử hàng nhiều trăm năm và bản thân nó cũng đã và đang tiếp tục phải cải tiến, điều chỉnh. Do vậy, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo ý kiến của đồng chí Tổng Bí Thư, cần phải nhận thức là quá trình lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chỉ có như thế mới khắc phục các biểu hiện chủ quan duy ý chí nóng vội, cũng như tâm lý chán nản, dễ chấp nhận khiến cho quá trình dân chủ hóa trì trệ, bất cập với yêu cầu đổi mới. Chúng ta vừa tăng cường thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, nhưng cũng cần tránh các biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan, dân chủ kiểu phương Tây, lợi dụng dân chủ - nhân quyền để gây mất ổn định, thực hiện cách mạng “sắc màu” hòng thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, không được phiến diện trong nhận thức về mối quan hệ giữa “đa đảng”, “đa nguyên” với mức độ cao thấp của dân chủ; khắc phục sự mơ hồ về thực chất và hình thức biểu hiện của nền dân chủ tư sản như đồng chí Tổng Bí thư đã nêu: “Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do”… không hề bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân hay vì nhân dân”(11). Cũng như vậy, nếu ai đang đồng nhất giữa dân chủ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với dân chủ trong xã hội xã hội chủ nghĩa đầy đủ sẽ là một sai lầm nghiêm trọng. Song song với những bất cập trên, còn cần phải khắc phục tính biệt lập trong xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tuy khác biệt về bản chất chính trị với dân chủ tư sản, nhưng điều đó không ngăn trở việc kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các thành quả của nhân loại trong xây dựng nền dân chủ của Việt Nam.

Xây dựng chế độ dân chủ phải được coi là sự nghiệp cách mạng lâu dài như khẳng định của đồng chí Tổng Bí thư, nhưng được coi là nhiệm vụ trọng yếu, bởi dân chủ vừa thể hiện bản chất của chế độ ta vừa là mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nước. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí và tin tưởng rằng, dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những “giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang định, kiên trì theo đuổi”, như ý kiến của đồng chí Tổng Bí Thư./.

----------------------------------------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1), (4), (5), (9), (10), (11). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, ngày 16 tháng 5 năm 2021

(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG – ST, tr.232

(3), (6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, tr.70

(7), (8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. CTQG Sự thật, tr.27, 89

PGS.TS Đỗ Thị Thạch

Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Video liên quan

Chủ đề